Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2019

- KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG MÙNG 10 THÁNG 3 ÂM LỊCH KỶ HỢI 2019

Dù ai đi ngược về xuôi .

Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba.


TỪ BAO ĐỜI NAY, CÂU CA ẤY VẪN IN SÂU TRONG TÂM THỨC MỖI NGƯỜI DÂN VIỆT NAM, VÀ DÙ Ở BẤT CỨ NƠI ĐÂU TRÊN TRÁI ĐẤT NÀY, CỨ ĐẾN NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG LÀ HÀNG TRIỆU NGƯỜI CON MANG DÒNG MÁU VIỆT NAM CÙNG NHAU THÀNH TÂM HÀNH HƯƠNG HOẶC HƯỚNG VỀ ĐẤT TỔ, THẮP NÉN TÂM HƯƠNG, NHỚ VỀ NGUỒN CỘI, TRI ÂN TỔ TIÊN VỚI LÒNG THÀNH KÍNH.



 
TÂM NIỆM



LỜI VÀNG QUÂN PHỤ
15 tháng 07 Mậu Thân
(08.08.1968)
THI
                                  LẠC      bang chứng vị tuyển con lành,
                                  LONG   hội lễ triều sắp bảng danh
                                  QUÂN   ngự trung kiên ban ấn khuyết,
                                  PHỤ      triều Nguơn chuyển pháp cao thanh.
                                  KHẢI    cơ Thống chưởng Tiền Thiên nhập,
                                  LỄ         vị hội minh Đạo pháp thành,
                                  TRUNG sắc đề chương xây Chánh Đạo,
                                  NGUƠN đồng chưởng lập thị lôi oanh.

                                  Lôi oanh trị thế trạch lương hiền,
                                  Lành dữ hai đường khó trọn duyên,
                                  Lập đức cẩn ngôn nguồn Đạo mạch,
                                  Hơn thua danh lợi chỉ đeo phiền.
                                  Phiền lụy con ơi, kiếp sống trần,
                                  Một ngày tuổi thọ khó toàn nhân;
                                  Nguyên linh ngộ Đạo hành siêu pháp,
                                  Để thoát khổ lao kiếp nợ nần.
         
          Nầy các con! Sự sống của các con là sự sống của vô vi định đặt, chỉ quanh quẩn trong kiếp luân hồi gang tấc trong vòng trăm tuổi thì thử hỏi con có toại hưởng những gì thú vị của trần ai, còn sanh tử trong vòng thì làm sao được trường miên vĩnh cửu. Kiếp sống tạm của các con chưa gọi rằng đủ toàn nhiên kiếp sống cao linh, kiếp sống trường cửu khi các con đoạt được diệu pháp Kim thân Thánh thể, luân được Ngũ Khí Triều Nguơn, Huyền Nhiên Chi Khí con gom tụ thì sống vĩnh cữu trường miên nơi Niết-Bàn hay Bạch-Ngọc. Kiếp sống còn mang thân tứ đại giả thì muôn đời các con phải chịu vòng luân hồi sanh, lão, bịnh, tử, não phiền cay đắng, buồn khổ thì làm sao thung dung tự toại sớm dạo non bồn, chiều về Điện Ngọc? Các con chớ quên tình Cha thương các con như tình thương con ở thế hạ, nơi gia đình con thương các con của con vậy, thì tình thương vĩnh cửu trường miên muôn đời không đoạn dứt.
          Các con ngày nay đoạt được siêu pháp thượng thừa, ráng rèn luyện tâm linh chuyển lằn Kim quang đi vòng trong châu thân, luân tỉnh trụ huê-quang xuất khiếu triều nguơn nơi Thượng-đài mở Huyền-quang khiếu, Cữu huyện phải đã thông, Truyền Quang Như Ý phải đi đồng, đừng vì dục vọng trần ai, xa rời tâm pháp nhiệm mầu của Thượng Phụ Hồng Quân bí khuyết cao linh vì thế hạ Long Hoa khai diễn Thầy chẳng riêng tình. Các con thọ mạng cao linh lập đời Nghiêu Thuấn, xây bảng Phong Thần, dựng lập Vương Triều, Thầy mới sắc phong diệu pháp mầu siêu để cứu cánh các con về nơi cựu vị. Các con ơi! Biển trần ai các con phải thức tỉnh trở về với huệ điễn cao linh, đừng đắm sa nơi thế hạ trần tình dục vọng cuốn lôi theo ác trược thì muôn đời con phải chịu luân hồi sống trong vòng trăm tuổi mà thôi!
          Cơ tận diệt đã diễn biến khắp nơi từ Âu sang Á, hoàn cầu thế giới năm châu triều đại tuần hoàn vận chuyển. Xét chung cùng  nòi giống Lạc bang Tiên Tổ, động lòng Cha xót thương con biết tâm truyền diệu lý, Cha vui mừng. Con thù nghịch lẫn nhau, giết hại nhau, lòng Cha đớn đau dường dao cắt! ... Con ơi! Cố gắng tu hành cho vẹn vẻ, dứt sân si thịnh nộ, dứt nghiệp quả cuồng loạn thân tâm hầu đạt được siêu thâm diệu lý, chánh pháp đại thừa .
                                                             THI
          Các con quì trước bệ đài
Lòng Cha thương xót điểm lai cơ mầu.
          Tu hành kiên chí lo âu,
Cuộc trần biến chuyển Năm châu rối cuồng .
          Giờ đây Long Hội khai tuồng,
Sao con còn biết cội nguồn Tổ Tiên.
          Tưởng rằng con nghĩ tình riêng,
Tu cao con lại than phiền khổ thân.
          Nghiệp đời con phải lao thân,
Đường tu luyện pháp chuyên cần con ơi!
          Ngày sau cơ chuyển tức thời,
Nghe ba tiếng sấm vang trời Phật lâm.
          Con tu đừng nghĩ lạc lầm,
Có Thầy, có Mẹ chứng tâm con hiền.
          Thành lòng vọng thỉnh Cữu Huyền,
Nên Cha ngự xuống bệ tiền đêm nay.
          Nhắc con công quả kịp ngày
Pháp lành lo luyện chớ phai mật truyền.
                                                          oOo
Mật truyền diệu lý ráng con ơi!
Khẩu khuyết cao linh khá kịp thời,
Luyện đúng Tiên-Thiên khai Cửu-khúc,
Huỳnh-Hà vận chuyển ngự lưng vơi.
Lưng vơi ngoan cảnh triệu đài son,
Nhập vị kim-thân điệp khuyết tròn,
Diệu hòa liên-Hoa khai bửu-vị,
Thoát hồi phong hỏa đắc đài son.
                                 BÀI
     Lạc-Long-Quân Cha truyền diệu hóa,
     Lễ Trung-Nguơn Cha hạ Siêu đài,
          Động lòng Cha xuống cơ lai,
Truyền con tất cả trong ngoài quang huy.
     Con cầu nguyện Điện Trì Cha xuống,
     Dạy con lành ráng chuộng pháp nguyên,
          Đợi chờ Di-Lạc phán truyền,
Long-Hoa khai hội Cao-Thiên ngự triều.
     Ngày Trung-Nguơn hội đều tất cả,
     Các con lành điểm hóa đêm thanh,
          Nhẹ lằn linh huệ ân lành,
Ban cho tất cả hồng danh điểm truyền.
     Con cố gắng Đạo huyền diễn biến,
     Khắp nơi nơi hóa biển thành sâu,
          Hồng-Bàng Tiên-Tổ từ lâu,
Lạc-Long sắc tứ nhiệm mầu cao linh.
     Con biết tu riêng tình thương nhớ,
     Cứu Ông Cha lòng nỡ xa khơi,
          Thương vì Thất-Tổ muôn đời,
Chịu điều phiền não cuộc đời lao thân.
     Nuôi nấng con thân trần khổ cực,
     Ngày xác phàm còn mất thế gian,
          Linh-hồn còn phải ngục mang,
Động lòng cầu nguyện vớt đàn Vu-Lan.
     Con biết tu Đạo Vàng tin tưởng,
     Nguyện cầu Thầy hầu hưởng hồng ân,
          Cuộc đời dập tắt nợ nần,
Biết lo Đạo pháp chuyên cần luyện đơn.
     Nay các con phản hườn tỉnh trụ,
     Chiếu huệ quang hiện ngũ linh-đài,
          Nhập Thần xuất Thánh điểm khai,
Huyền-nhiên chi-khí trong ngoài cao linh.
     Tuệ quang thông Bửu-đình trụ điễn,
     Phóng kim-quang hóa hiện muôn màu,
          Tường vân ngũ sắc tay trao,
Triều-Nguơn hiện chiếu linh mao trụ thần.
     Nơi Điền-Đan linh thân bổn pháp,
     Hiện Dũ-Hà tiếp nạp huê quang,
          Hạ điền thượng đỉnh huy hoàng,
Chuyển luân Thái-Cực rỡ ràng kim chuyên.
     Nơi Ngọc Chẩm liền liền diệu pháp,
     Trụ điễn trung xây lập huê quang,
          Mở thông huyền khiếu huy hoàng,
Luân dương hiển Thánh khai quang nhập Thần.
     Con luyện pháp chuyên cần tịnh thủ,
     Trí Hườn-Hư cho đủ mới mầu,
          Luyện sao hiện rõ Minh-Châu,
Hườn-Hư Đẳng-Giác tóm thâu mật truyền.
     Con luyện cho huyền huyền thiệt thiệt,
     Đừng vọng tâm, đừng khuyết mật ngôn,
          Minh-minh, yểu-yểu linh-hồn,
Lâng lâng thân xác triều tôn nhập đài.
      Con Đạo-pháp oằn vai gánh Đạo,
     Hữu-hình lo bồi tạo đền Vàng,
          Vô-vi huyền pháp cao ban,
Hữu-vi Đạo lý ẩn tàng Thiên-cơ.
     Con lộ liễu đúng giờ trọn vẹn,
     Con xuất ngôn còn thẹn hồng trần,
          Xét rằng con mến nợ nần,
Xưng Tiên, xưng Phật lòng trần khó minh.
     Vậy con ơi! Đạo trình Thiên sử,
     Phải cẩn ngôn vẹn giữ trong ngoài,
          Hồng trần dứt bỏ ngoài tai,
Non Tiên bước đến Bồng-Lai thanh nhàn.
     Cha thấy con trần hoàn lao nhọc,
     Nặng gia trung tước lộc công hầu,
          Đời toan lo lắng đâu đâu,
Nghĩa về Đạo-pháp con sầu riêng tư.
     Muốn cho con thâm trừ luật định,
     Đạo với Đời con tính lẽ nào?
          Chỉ hai đường thẳng con vào,
Thân con trần trược đớn đau khảo nhồi.
     Cha thương con chưa rồi phận sự,
     Muốn vớt con thoát chữ khảo thi,
          Con ơi, Thiên Luật đúng kỳ,
Cha con cúi lạy Đơn-Trì Ngọc-Kinh.
     Cầu nguyện trước bệ đài Kim-Khuyết,
     Giảm Thiên-điều cao-khiết uy linh,
          Ban cho trần hạ thâm tình,
Hồng-Bàng nòi giống phục sinh Liên-đài.
     Trước Long-án Thầy khai ấn khuyết,
     Sắc Thiên-Tòa cao khiết phán truyền,
          Lòng Thầy đâu có tư riêng,
Chí-Tôn nhứt luận phán truyền huyền năng.
     Tam-Giáo phân Đạo hằng vận chuyển,
     Phật Tiên triều hóa hiện Long-Hoa,
          Các con quỳ dưới Chương-Tòa,
Lịnh Thiên chỉnh sắp Kỳ-Ba nhiệm huyền.
     Luận cho con Đạo truyền siêu-lý,
     Đã từ lâu Kim-chỉ ngọc ban,
          Thánh ngôn, Thánh huấn huy hoàng,
Muôn điều vàng ngọc điểm đàn khai cơ.
     Chỉ khuyên con kịp giờ Long-Hội,
     Rốt cuộc rồi con vội rẽ chia,
          Đệ huynh con nỡ đoạn lìa,
Long-Hoa tuyển trạch danh bia bảng vàng.
     Điểm danh con siêu đàn khải hóa,
     Lễ Trung-Nguơn Cha hạ hồng trần,
          Chứng lòng con trẻ chuyên cần,
Hiếu ân Cha Mẹ, Thánh Thần chứng minh.
     Điệp sớ văn thượng trình Kim Viết,
     Trước Ngọc-Kinh THẦY khuyết ấn đề;
          Đem con điện-các trở về,
Thoát hồi khổ não thảm thê hồng trần.
     Cậy tay con tinh thần cao cả,
     Lo cho tròn Đạo hóa cao nhiên,
          Đừng vì tâm ý tư riêng,
Đừng quên Tâm-Pháp mật truyền Thiên-Thơ./.
                         Thăng
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .








Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

- KÍNH MỪNG ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT ĐẢN SANH NGÀY 19/02 ÂM LỊCH 2019


Đầu cúi lạy Phổ Đà Phật Tổ,
Quan Thế Âm cứu độ hồng trần,
Từ bi phổ tế lê dân,
Muôn loài nhuần gội oai ân đức Ngài.
Xin độ kẻ hằng ngày chiêm ngưỡng,
Giúp người lành hạnh hưởng phước duyên,
Gió dông sa đọa ghe thuyền,
Tâm thành khẩn đảo, tai liền giảm tan.
Rủi lầm bước vào đàng đạo tặc,
Vướng đao binh thắt ngặt thảm sầu,
Nhờ ơn bố khắp bốn châu,
Tiếng than xúc động tầm âu độ người.
Hoặc hung bạo bị nơi xiềng tỏa,
Ở hiền lành mắc họa thình lình,
Rất thành khẩn vái Thánh minh,
Quan Âm Bồ Tát anh linh cứu nàn.
Gặp yêu quái cản đàng ngăn ngõ,
Đức Từ Hàng chẳng bỏ người lành,
Tà ma nghe đến oai danh,
Mắt không dám ngó, khó hành hại thân.
Cảm thử thấp, tâm thần trầm trệ,
Mang bịnh căn, thân thể xốn xang,
Hôn mê, chợt tỉnh trí ngoan,
Quan Âm niệm đặng, tai nàn tán tiêu.
Người vô tự quạnh hiu sau trước,
Sửa tấc lòng, tác phước khẩn cầu,
Từ bi linh hiển phép mầu,
Cho trai hiển đạt, gái hầu thuần lương.
Lòng lê thứ nhiều phương tin tưởng,
Quan Thế Âm liệu lượng hóa thân,
Xót thương trợ kẻ phàm trần,
Dẫn dìu thuyết pháp, chóng gần Phật Tiên.
Trí ngu muội, đảo nguyền minh mẫn,
Tánh sân si, cầu khẩn giải oan,
Như lòng tà dục dấy loàn,
Sớm khuya tụng niệm, đặng an tinh thần.
Cơn nước lửa, khó phần trốn tránh,
Lúc hiểm nguy, tâm tánh kinh hoàng,
Thật lòng khẩn vái khỏi nàn,
Nhành dương cam lộ rưới tan diệu kỳ.
Đệ tử chí tâm quy mạng lễ,
Mong Ơn Trên phổ tế mười phương,
Chúng sanh thoát chốn tai ương,
Tỵ nơi khổ não, lánh đường chông gai.
Nhờ Bồ Tát Như Lai lân mẫn,
Độ cho tôi tinh tấn tu hành,
Bền lòng chặt dạ kỉnh thành,
Lâm chung may đặng vãng sanh Thiên Đàng.
Cầu cha mẹ bình an, khương thái,
Thất tổ đồng thượng giái siêu thăng,
Muôn dân phước, lộc, thọ tăng,
Nhà yên nước thạnh người năng làm lành.

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.



Sự tích Quan Âm Nam Hải

Theo sự khảo cứu của nhà bác học Hà Lan tên là De Groot thì trong kiếp chót của Đức Phật Quan Âm, Ngài hạ phàm làm một vị công chúa Ấn Độ (con vua Linh Ưu, niên hiệu Diệu Trang), công chúa Diệu Thiện. Sau khi thoát kiếp này Ngài được chứng quả Phật Tổ tại Phổ Đà Sơn (Nam Hải), thường gọi là Quan Âm Nam Hải.

Vào năm 2587 trước Chúa giáng sanh thuộc vào thời đại kim thiên bên Ấn Độ, phương Tây có một tiểu quốc kêu là Hưng Lâm. Trong nước Hưng Lâm cảnh tượng thái hòa là nhờ có vua hiền, tôi giỏi, bá tánh chuyên lo cày cấy, nông trang.

Chánh thê của nhà vua là bà hoàng hậu Bửu Đức. Từ ngày nhà vua tức vị đến nay đã 40 năm rồi mà bà hoàng hậu chưa hạ sanh đặng vị hoàng tử nào. Thấy thế bà lấy làm buồn và xin nhà vua đi cùng bà lên núi Huê Sơn cầu tự. Núi Huê Sơn ở về hướng Tây. Trên núi ấy có một vị thần rất linh thiêng. Ai cầu chi thì đặng nấy.

Vua nghe theo, một ngày kia quân gia rần rộ, xa giá nhắm Huê Sơn trực chỉ. Cầu tự xong về triều thì một ít lâu bà có thai và đến ngày sanh đặng một vị công chúa đặt tên là Diệu Thanh. Cách một ít lâu hoàng hậu lại hạ sanh một nàng công chúa tên là Diệu Âm và sau rốt sanh ra nàng công chúa Diệu Thiện. Vị công chúa thứ ba này ngày sau tu hành đắc đạo lấy hiệu là Quan Âm.

Vì nhà vua không có con trai nên vua nhứt định truyền ngai vàng lại cho một trong ba vị phò mã (rể vua). Hai công chúa đầu là Diệu Thanh và Diệu Âm thì nhà vua đã đính hôn cho hai vị quan to thính danh nhứt trong triều. Trái lại nàng công chúa thứ ba là Diệu Thiện thì cương quyết không chịu lấy chồng và nhứt định phế trần đi tu để thành chánh quả.

Nghe con quyết định như thế nhà vua nổi cơn thịnh nộ và buộc nàng Diệu Thiện phải tuân lịnh xuất giá. Thấy thế nàng mới xin vua cha nếu ý định nhà vua như vậy thì ít nữa xin cho nàng kết hôn với một thầy thuốc và thưa rằng: “Ý con là muốn cứu chữa hàng quan lại bất tài và ngu xuẩn, những tai nạn do sự nắng lửa mưa dầu, tuyết giá mà ra, những tính xấu xa ích kỷ về nhục dục, các tật nguyền, bịnh hoạn do sự già nua cằn cỗi mà ra, sự phân chia giai cấp, sự khinh rẻ kẻ nghèo và sự tư lợi.”

Nàng lại nói to lên rằng: “Chỉ có Đức Phật là được chứng quả bồ đề, minh tâm kiến tánh.” Nghe vậy nhà Vua lại càng tức giận thêm bèn hạ lệnh lột hết áo quần của công chúa và nhốt nàng vào huê viên để bị đói lạnh mà chết. Công chúa không sờn lòng. Trái lại nàng cảm ơn vua cha đã phạt nàng như thế và chỉ vui tươi mà chịu khổ hình.

Các bà mệnh phụ được lệnh ra khuyến dụ nàng hồi tâm tuân ý thánh chỉ. Nàng khư khư một mực và nhứt định vào chùa Bạch Tước ẩn tu, nhập thất tham thiền. Hay tin ấy nhà vua không cấm cản chi, đinh ninh rằng ra nơi ấy một ít lâu công chúa chịu không nổi với những nỗi khổ cực, sẽ chán nản mà về triều.

Nơi Bạch Tước Tự có mật lệnh của nhà vua phải buộc nàng làm những công việc đê tiện, hèn hạ và mệt nhọc nhứt. Nàng vẫn cúi đầu vâng chịu, không một tiếng than, là vì khi nàng làm phận sự có những hùm beo, chim chóc và thần thánh giúp sức. Biết được thế cho nên bà sư cụ chùa Bạch Tước mới cụ sớ về triều tâu vua mọi sự. Vua cha bèn nghĩ ra một chước cốt làm nàng kinh khủng bỏ chùa mà về đền.

Một bữa kia quân lính đến bao vây và phóng lửa thiêu chùa bốn mặt. Sư cụ và tất cả ni cô kinh tâm tán đởm chạy ngược chạy xuôi tầm phương tẩu thoát. Tiếng kêu trời kêu đất inh ỏi! Nàng Diệu Thiện điềm tĩnh như thường. Nàng chỉ lâm râm cầu Đức Phật mà nàng nguyện theo gương và xin Ngài đến cứu nàng. Nàng bèn rút trâm cài đầu đâm vào họng và phun máu tươi lên không trung, tức thì mây kéo mịt mù, thiên hôn địa ám, mưa xuống như cầm chĩnh mà đổ. Bị đám mưa to các ngọn lửa đỏ ngất trời kia lần lần êm dịu rồi tắt. Thấy vậy quân chạy về phi báo. Nhà vua liền hạ lệnh bắt nàng và đưa về đền.

Khi điệu nàng về tới, nhà vua dạy mở yến tiệc ca xang, bày một cuộc lễ hội thật lớn cốt để đem nàng trở lại quãng đời phong lưu khoái lạc. Nhưng các cuộc bài trí ấy cũng không hiệu quả gì và cho đến những điều hăm dọa ghép nàng vào tử hình cũng không thấm vào đâu. Cùng thế nhà vua mới hạ lệnh trảm quyết nàng và dạy ba quân điệu nàng khỏi đền mới hành hình.

Thần hoàng bổn cảnh liền tâu sự ấy lên cho Ngọc Đế rõ. Đức Ngọc Đế hạ lệnh cho thần hoàng bổn cảnh giữ gìn hồn nàng đừng cho nhập địa phủ. Giờ hành hình đến, giám sát vừa giơ gươm lên thì gươm gãy làm hai. Giám sát bỏ gươm rút giáo toan đâm thì giáo lại tét làm hai. Giám sát chỉ còn một nước là xử giảo nàng (thắt cổ). Đến giờ hành hình thì có một trận cuồng phong thổi tới, làm cho trời đất tối tăm mà chung quanh mình nàng thì hào quang hiện ra sáng rỡ.

Thần bổn cảnh liền hóa ra một con hổ, từ trong rừng xanh nhảy ra và cõng thây nàng chạy thẳng vô núi. Những kẻ đi xem hoảng chạy tứ tung. Quan quân và giám sát ảo não muôn phần, lật đật về triều tâu vua mọi sự. Nhà vua không nao núng và lại cho rằng cọp tha thây là một sự trừng phạt nặng nề, gán thêm vào sự trừng phạt của nhà vua để phạt nàng về tội bất hiếu và tội bất tuân lệnh vua cha.

Nhờ huyền diệu ấy mà nàng Diệu Thiện tuy chết nhưng xác vẫn còn nguyên. Lúc ấy nàng mơ màng như thấy một giấc chiêm bao, cơ hồ như nàng đã lướt gió tung mây… Khi tỉnh lại nàng lấy làm lạ mà thấy mình ở vào một thế giới không nhật nguyệt, tinh tú, không núi non, không người, không loài vật.
Bỗng chốc nàng thấy hiện ra trước mắt một vị thanh niên mặc áo màu xanh dương, hào quang chói rạng. Vị ấy đến trước mặt nàng, tay cầm một tờ giấy dài và nói rằng: Mình vưng lệnh Diêm Chúa (Yama) mời nàng xuống viếng Diêm Cung để thấy rõ ràng cảnh khốn khổ và những hình phạt mà kẻ có tội phải chịu sau khi chết.
Nơi Diêm Cung mỗi khi nàng đi đến đâu nhờ sức thần thông và đức từ bi thuyết kinh của nàng các hồn bị giam cầm đều đặng cứu rỗi và thoát khỏi ngục môn hầu tái kiếp trở lại trần gian. Thập Điện Minh Vương cũng ao ước đặng nghe nàng thuyết pháp. Chiều ý Mười Vua, nhưng nàng xin rằng sau cuộc ấy các hồn tội nhân đều đặng phóng thích. Sau khi khoản ấy đã đặng các vua ưng thuận thì nàng mới dùng hết phép thần thông của nàng mà thuyết pháp.
Trong nháy mắt chốn U Minh biến thành lạc cảnh và các âm hồn đều đặng trở lại cõi trần. Thấy mười cõi U đồ đã trống trơn, Thập Điện Minh Vương mới lật đật phán rằng: “Mười điện chúng ta không quyền giam cầm vong hồn nàng Diệu Thiện.” Và tức khắc dạy đưa nàng trở lại dương gian.
Khi tỉnh dậy nàng Diệu Thiện lấy làm bối rối chưa biết phải đi phương nào. Lúc ấy Đức Phật Thế Tôn hiện ra trên mây dạy nàng phải ra ở núi Phổ Đà, giữa Nam Hải thuộc cù lao Hương Đảo để tu thêm. Muốn đến đó phải trải qua ba ngàn dặm đường. Bởi thế, Đức Phật Thế Tôn mới ban cho nàng một trái bàn đào vườn Tây Vương Mẫu để nàng đỡ đói khát trong một năm và nhơn có đặng trường sanh. Nàng sắm sửa thượng trình.
Thấy nàng sức yếu mà đường lại xa Đức Trường Canh Thái Bạch mới truyền cho thần bổn cảnh hóa ra con hổ, cõng đưa nàng ra nơi ấy. Thần bổn cảnh tuân y và trong giây phút nàng đã đến Phổ Đà Sơn.
Khi nàng tu đặng chín năm thì có một vị Phật Tiếp Dẫn đến cho các vị thần trấn Phổ Đà Sơn hay rằng nàng Diệu Thiện tu hành đạo pháp hiện nay cực kỳ cao siêu mà từ trước đến giờ chưa vị nào đạt được. Nàng đã đứng trên tất cả chư vị Bồ Tát và cai quản các đấng ấy.
Hôm nay, ngày 19 tháng 02 chúng ta phải yêu cầu vị ấy nhận một địa vị cao thượng hơn để cứu rỗi và ban hạnh phúc cho quần sanh.” Sơn thần Phổ Đà Sơn bèn triệu tập tất cả các thần tiên, thánh phật vùng ấy đến chầu và xưng tụng công đức của vị Bồ Tát mới vừa chứng quả và từ nay người thường gọi là Quan Âm Như Lai, Quan Âm Nam Hải, Phật Tổ Phổ Đà Sơn. Tân Bồ Tát ngự trên tòa sen và tiếp kiến các đấng thiêng liêng đến bái kiến và khánh chúc.
Lúc ấy chư thánh tiên mới định lựa một vị đồng tử để hầu Ngài. May đâu lúc ấy có một vị trẻ tuổi xưng là Hoàn Thiện Tài nghĩa là người chỉ có đọc kinh mà đặng đức lành phép lạ. Thiện Tài đồng tử thú nhận rằng vì mồ côi cha mẹ chàng mới phát nguyện tu hành quy y Phật pháp nhưng chưa chứng quả. Nay nghe tin Nam Hải Phổ Đà Sơn có Bồ Tát ngự nên quyết chí vượt qua mấy muôn dặm đến đây để hầu Ngài và xin làm đệ tử.
Trước khi ưng chuẩn lời nguyện ấy, Đức Bồ Tát muốn thử tâm chí coi ra sao, Ngài bèn truyền cho sơn thần, thổ địa hóa làm ăn cướp đến vây đánh Phổ Đà Sơn. Riêng về phần Ngài thì Ngài giả dạng sợ sệt, kêu la cầu cứu và giả té xuống hố sâu. Thấy vậy Thiện Tài đồng tử chạy theo cứu thầy và nhảy luôn xuống hố.
Vì quyền năng pháp lực chưa đặng cao cho nên đồng tử phải thiệt mạng. Bồ Tát liền dùng thần thông cứu tử. Khi đồng tử tỉnh dậy thì thấy một cái xác bên mình, Bồ Tát cho biết đó là xác phàm của đồng tử và hiện nay đồng tử đã bỏ xác phàm và nhập vào cõi thánh. Từ đó Thiện Tài đồng tử một lòng phụng sự Bồ Tát trong sự cứu độ chúng sanh.
Sau lại Đức Bồ Tát có thâu làm đệ tử nữ vị cháu gái của vua Nam Hải Long Vương tên là Long Nữ. Việc đã xảy ra như vầy. Ngày kia đệ tam thái tử con vua Long Vương hóa làm con cá, dạo chơi trên mặt biển, chẳng may vướng phải lưới của ông chài. Ông chài bắt cá ấy đem bán ngoài chợ. Ngự trên liên đài Bồ Tát biết rõ việc ấy, bèn sai Thiện Tài Đồng tử giả dạng thường nhơn đến mua cá ấy đem ra biển phía Nam thả.
Nam Hải Long Vương nhớ ơn cứu tử con mình mới định dưng cho Bồ Tát một cục ngọc ban đêm chiếu sáng để giúp Ngài đọc sách không cần đèn, và dạy Long Nữ là con gái của đệ tam thái tử phải bổn thân đem ngọc đến dưng. Đến nơi dưng ngọc xong, Long Nữ rất cảm phục huyền năng và đức độ của Bồ Tát và cầu xin Ngài cho theo hầu Ngài cùng quy thuận Phật pháp. Bồ Tát ưng cho. Từ ấy Long Nữ đặng thâu làm đệ tử hiệp cùng với đồng tử Thiện Tài mà phụng sự Ngài.
Từ khi Diệu Trang Vương dùng chước độc mà hại nàng Diệu Thiện thì nhà vua phải một chứng bệnh hết sức khổ sở.
Thân thể nhà vua phải thúi tha đầy ung thư ghẻ chốc làm cho nhà vua nhức nhối đau đớn vô hồi. Đức Bồ Tát phóng đại quang minh biết rõ mọi sự. Nhà Vua lúc ấy hạ lệnh đăng bảng cầu danh y, Bồ Tát bèn giả dạng một nhà sư già đến xin chữa bịnh.
Khi đến trước mặt vua thì nhà sư bèn tâu phải kiếm cho đặng đôi mắt và một đôi cánh tay của thân nhân nhà vua mới trị đặng bịnh, nhưng mà phải ra núi Phổ Đà mới kiếm đặng hai món ấy. Vua liền phái hai vị quan cấp tốc đến Phổ Đà Sơn để tìm hai món vừa nói. Thấy vậy hai vị phò mã rất bất bình và âm mưu định giết nhà sư và sau đó thí vua mà soán ngôi.
Bồ Tát rõ sự việc ấy và đã sai Thiện Tài đồng tử giả làm tên thị vệ hầu bên cạnh vua. Khi một tên quân của hai vị phò mã dưng cho vua một chén thuốc độc nói dối là của nhà sư dạy đem cho vua ngự thì tên thị vệ kia tiếp bưng chén ấy và sẵn tay làm đổ ngay xuống đất. Đang lúc ấy một người lẻn vào phòng nhà sư để thích khách. Bồ Tát bèn dùng thần thông làm cho tên ấy tê liệt không còn hoạt động nữa và bị bắt trói.
Cơ mưu bại lộ, hai vị phò mã vì sợ bị khổ hình nên đã uống độc dược tự tử. Hai vị công chúa phải tội liên can đều bị biếm vào lãnh cung đời đời cấm cố. Hai nàng mới ăn năn, noi gương em mình là Diệu Thiện lo tu hành. Khi hai nàng đã tấn hóa nhiều về con đường tu niệm thì Bồ Tát và Thiện Tài đồng tử hóa ra hai thớt tượng bạch mà đưa hai vị công chúa đến cảnh Phật Đài để tránh xa mùi tục lụy.
Từ ngày hai vị sứ giả phụng mệnh nhà vua, tuôn mây lướt sóng trải biết bao khổ cực mới đến Phổ Đà Sơn, Thiện Tài đồng tử phụng lịnh Bồ Tát hiện ra tiếp rước. Hai sứ giả trình bày mọi sự rồi được đến yết kiến Bồ Tát. Bồ Tát Diệu Thiện ngồi trên liên đài bèn trao cho hai vị sứ giả con mắt bên tả và cánh tay bên tả của mình.
Việc xong sứ giả cáo tạ rồi hồi trào, và dưng lên cho vua và hoàng hậu hai món đã kiếm đặng. Hoàng hậu nhìn lên cánh tay tả thấy có nốt ruồi và sau khi nghe sứ giả tả dung mạo người đã cho nhà vua hai vật ấy thì quả quyết đó là con mình và đau đớn không ngần.
Nhà sư bèn trộn hai món ấy với ít vị thảo dược rồi đem tất cả đắp lên nửa thân bên trái của nhà vua thì nhà vua tức khắc khỏi đau phía bên mặt. Thấy thế nhà sư bèn tâu vua xin sứ giả ra Phổ Đà Sơn tìm cho đặng con mắt phía tay mặt và cánh tay mặt. Sứ giả vâng lệnh ra đi, không bao lâu đem về dưng đủ hai món. Nhà sư cũng làm y như trước thì nửa thân bên phải của nhà vua khỏi ngay. Từ ấy vua Diệu Trang hoàn toàn lành bịnh. Trong triều, ngoài quận ai ai cũng đồng biết rằng nhờ con chí hiếu là Diệu Thiện mà nhà vua mới khỏi bệnh ngặt nghèo.
Sau khi khỏi chết vua cùng hoàng hậu cám ơn cứu tử, định ra Phổ Đà Sơn một chuyến để tạ ơn. Xa giá đăng trình gặp không biết bao là nguy nan, nhưng đều nhờ Bồ Tát dùng phép thần thông mà cứu khỏi. Đến nơi vua cùng hoàng hậu thấy Bồ Tát tọa thoàn trên liên đài mất cả hai mắt và hai tay. Nhìn biết là con mình nhà vua ăn năn xúc động vô cùng bèn quỳ xuống cầu nguyện cho con đặng sống và đặng huờn y hai con mắt và hai tay. Khẩn nguyện xong thì nhà vua và hoàng hậu thấy con mình hiện trước mắt, tay mắt đủ, hình dạng mạnh khỏe như xưa.
Thấy phép thần thông vô biên của Bồ Tát vua cùng hoàng hậu nhứt định lìa nơi điện ngọc đền vàng, lánh mình trần tục tìm đàng thiên thai.